Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

Nguyên nhân, biểu hiện và cách phòng bệnh đau thần kinh tọa

Bệnh đau thần kinh tọa – căn bệnh có nguy cơ mắc phải ngày càng cao và có thể gặp ở mọi độ tuổi, mọi đối tượng như: tài xế, nhân viên văn phòng, người lớn tuổi, công nhân, nông dân….
Chỉ cần ngồi quá lâu, sai tư thế hay có những hoạt động mạnh đều có thể ảnh hưởng đến cột sống mà gây ra bệnh. Khi mắc phải bệnh thì bệnh nhân phải chịu những cơn đau dai dẳng và gặp khó khăn trong chế độ sinh hoạt hàng ngày. Việc điều trị lại rất mất thời gian và tốn kém chi phí, vì thế việc phòng bệnh là rất quan trọng.
Nguyên nhân gây bệnh đau thần kinh tọa

Đau dây thần kinh tọa cónhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu do những tổn thương ở cột sống. Năm 1928, một nguyên nhân mới được phát hiện đã làm thay đổi hẳn khái niệm về nguyên nhân gây bệnh, đó là thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng. Đây là căn bệnh khá phổ biến nên được nghiên cứu rất kỹ trong cảy học hiện đại và y học cổ truyền.
Theo y học hiện đại, giữa các đốt sống là đĩa đệm, bên ngoài là một bao xơ dày và chắc, trong ruột là chất nhầy, gần giống như tròng trắng trứng gọi là nhân nhầy. Khi bao xơ bị rách, nhân nhầy bên trong sẽ thoát ra ngoài, tạo thành một khối gọi là khối thoát vị. Nếu khối thoát vị đè vào rễ thần kinh sẽ gây ra các hiện tượng như đau, tê, yếu liệt…Khi vùng thắt lưng hoặc vùng các rễ tạo thành thần kinh tọa bị khối thoát vị này chèn ép sẽ gây ra đau thần kinh tọa. Ngoài ra các chứng bệnh về thoái hóa khớp, vôi hóa cột sống, gai cột sống hoặc viêm xương khớp khi để tiến triển thêm cũng trở thành nguyên nhân gây bệnh.
Theo y học cổ truyền, bệnh đau thần kinh tọa là do 1 trong 3 nguyên nhân như “phong tà”, “thấp tà” hoặc “hàn tà” gây ra. Khi khí huyết bị ngưng trệ, làm tắc ngẽn mạch máu lưu thông sẽ gây ra các chứng đau lưng, đau thần kinh tọa.
Dấu hiệu của bệnh đau thần kinh tọa

Triệu chứng điển hình của đau thần kinh tọa là xuất hiện đau sau một sự gắng sức, khởi đầu là đau lưng. Vài giờ hoặc vài ngày sau đó tiếp tục tăng và lan xuống mông, khoeo, cẳng bàn chân theo đường đi của dây thần kinh tọa.
Cơn đau có thể âm ỉ nhưng thường là dữ dội, tăng lên khi ho, hắt hơi, cúi và giảm khi nằm yên trên giường cứng, gối co lại. Bệnh nhân có cảm giác kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm ở bàn chân.
Khi mắc phải chứng đau thần kinh tọa, người bệnh sẽ gặp khó khăn trong các hoạt động hàng ngày vì những cơn đau dữ dội ảnh hưởng nhiều đến khả năng lao động. Tình trạng bệnh kéo dài không được điều trị sẽ dẫn đến mãn tính gây đau lưng không chữa trị được. Để đối phó với bệnh nhiều trường hợp đã tìm đến các giải pháp điều trị cấp tốc giải quyết các biểu hiện của bệnh như uống thuốc giảm đau, tiêm thuốc, giải phẫu…mà quên mất điều tối cần thiết là phải điều trị tận gốc nguyên nhân gây nên vấn đề đó cũng như có những phương pháp duy trì, bảo vệ để các biểu hiện bệnh không quay trở lại.
Phòng và điều trị bệnh đau thần kinh tọa
Theo Đông y, bệnh đau thần kinh tọa phải được điều trị tận gốc để bệnh không tái phát nhiều lần và trở thành bệnh mãn tính. Dựa trên nguyên nhân gây bệnh, Đông y đưa ra phương pháp điều trị bệnh phải dựa trên nguyên tắc: thông kinh tọa lạc, hành khí hoạt huyết, khu phong trừ thấp.
Với những vị thuốc quý có tác dụng “thông tắc bất thống” như “Đương quy được dùng để điều trị ứ trệ, phong thấp, thiếu máu, kinh nguyệt không đều, làm thuốc giảm đau”, “Thiên ma có tác dụng khu phong trấn kinh, chủ trị đau do phong thấp ngưng trệ, tê cứng tay chân do kinh lạc”, “Huyết kiệt đi vào kinh can giúp tán ứ, hoạt huyết giảm đau ngoại biên và dinh tân dịch, trừ tá khí trong ngũ tạng. “Quy bản bổ thận tư âm để cân bằng âm dương trong cơ thể mà phòng chống đau nhức”, “Nhân sâm làm tăng thể lực, trí lực, tăng sức đề kháng đối với bệnh tật”, “Trầm hương là một vị thuốc hiếm có tác dụng giáng khí nạp thận, bình can, tráng nguyên dương có tác dụng giảm đau trấn tĩnh, tráng nguyên dương”, “Ô sảo xà là loại thịt rắn nước, có tác dụng chữa chứng phong thấp, tê ngoài da hoặc ngứa ngáy kinh niên.
Với những công năng và sự tương tác của các vị thuốc rạch ròi quân thần tá sứ kể trên được kết hợp trong Thakito TM, cùng với chế độ sinh hoạt hợp lý và có kèm theo một số động tác tập thể dục…, điều đó không chỉ tốt cho bệnh nhân bị đau thần kinh tọa mà còn đặc biệt kích thích chính những cơ năng tự nhiên trong tạng phủ để vận hành chức năng phục hồi sức khỏe và tăng sức đề kháng. Đây mới chính là giải pháp đầy hiệu năng và an toàn cho người bệnh trong việc điều trị chứng đau thần kinh tọa trong giai đoạn hiện nay.
THAKITO TM: Giúp khu phong trừ thấp, hành khí hoạt huyết, thông kinh tọa lạc. Hỗ trợ điều trị đau thần kinh tọa, tê nhức khớp do thoát vị đĩa đệm.
Thành phần cấu tạo: Mộc qua, Đương quy, An túc hương, Huyết kiệt, Xạ hương, Ô sảo xà, Nhũ hương, Quy bản, Quế, Hồng hoa, Đởm nam tinh, Ba kích, Địa long, Nhân sâm, Trầm hương, Thiên ma.
Đối tượng dùng: Người có dấu hiệu thoái hóa khớp, viêm khớp, đau nhức xương khớp, phong thấp, thoái hóa đốt sống cổ, vôi hóa cột sống, gai cột sống, đau vai gáy, tứ chi tê nhức do thời tiết thay đổi.
Thông tin chi tiết: http://thakito.com

Đau dây thần kinh tọa

Căn bệnh này hay gặp ở lứa tuổi 30-60, nhất là những người lao động chân tay nặng nhọc. Các nghề nghiệp có tư thế làm việc gò bó như công nhân bốc vác, nghệ sĩ xiếc, ba-lê, cử tạ... làm tăng nguy cơ xuất hiện và tái chứng đau thần kinh tọa.


Dây thần kinh tọa là một dây thần kinh dài nhất cơ thể, trải dài từ phần dưới thắt lưng đến tận ngón chân. Dây thần kinh tọa chi phối các động tác của chân, góp phần làm nên các động tác đi lại, đứng ngồi của hai chân.
Đau dây thần kinh tọa biểu hiện đặc trưng bằng cảm giác đau lan dọc xuống phía đùi theo rễ thần kinh lưng 5 (L5) và rễ thần kinh sống 1 (S1).
Nếu rễ thần kinh L5 bị tổn thương thì có hiện tượng đau dọc từ lưng eo phía ngoài xuống ngoài động mạch cẳng chân tới tận ngón chân út.
Nếu rễ thần kinh S1 bị tổn thương thì đau dọc ra phía sau mông, thẳng xuống sau đùi, sau bắp cẳng chân tới phía ngoài bàn chân.
Nếu bị bệnh thần kinh tọa trên (thần kinh hông) thì đau thường tới phía trên đầu gối; nếu bị thần kinh tọa dưới thì đau tới mắt cá ngoài bàn chân.
Trong trường hợp đau nhẹ, người bệnh vẫn đi lại, làm việc bình thường. Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát. Nếu đau nhiều thì khi chân giẫm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi, đi đại tiện rặn cũng đau. Đau nặng ảnh hưởng nhiều đến khả năng lao động.
Đau dây thần kinh tọa có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất là lứa tuổi 30-60, nam mắc nhiều hơn nữ. Mang vác và lao động nặng ở tư thế sai, gò bó, rung xóc, chấn thương, các động tác thay đổi tư thế đột ngột... là yếu tố thường xuyên nhất làm khởi phát bệnh. Ngoài ra, yếu tố tâm lý cũng đóng vai trò nhất định thúc đẩy xuất hiện và tái phát bệnh thần kinh tọa.
Các nguyên nhân gây đau thần kinh tọa gồm: tổn thương ở cột sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh, thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng, các tổn thương thực thể khác ở vùng thắt lưng (dị dạng bẩm sinh, chấn thương, thoái hóa cột sống thắt lưng, u, viêm cột sống dính khớp, viêm đốt sống do nhiễm khuẩn).
Phần lớn trường hợp chỉ đau thần kinh tọa một bên. Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau. Tùy theo tổn thương, họ có thể không nhắc được gót hay mũi chân, dần dần xuất hiện teo cơ đùi, mông, cẳng chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng, chân tê bì mất cảm giác, có thể đái dầm, ỉa đùn.
Việc điều trị đau thần kinh tọa phải kết hợp các biện pháp nội khoa, đông y, ngoại khoa, tâm lý, vật lý trị liệu và phục hồi chức năng. Trong thời gian đang đau cấp, hoặc đợt cấp của đau thần kinh tọa mãn, người bệnh cần nghỉ ngơi tuyệt đối trên giường và bất động, tránh mọi di chuyển hoặc thay đổi tư thế làm căng dây thần kinh. Người bệnh cần nằm trên giường phẳng và cứng, nằm ngửa, hông và gối hơi gấp, nếu đau nhiều có thể nằm co chân.
Cần dùng các thuốc chống viêm không steroid và thuốc chống hư khớp. Nếu có đau dạ dày - tá tràng thì phải dùng kèm các thuốc băng niêm mạc dạ dày hay tức chế bài tiết dịch vị. Tất cả đều phải theo đúng chỉ định của bác sĩ. Về vật lý trị liệu, có thể chườm nóng, chiếu tia hồng ngoại laser, sóng ngắn, từ trường, điện châm, tắm bùn, đắp bùn, tắm nhiệt, tắm suối khoáng, kéo giãn cột sống bằng dụng cụ cho trường hợp lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Nên kết hợp xoa bóp, châm cứu, ấn huyệt, thủy châm.
Phẫu thuật được chỉ định khi: điều trị nội khoa không đỡ sau 6 tháng; hoặc có biến chứng liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn; bệnh nhân đau dữ dội, đau tái phát nhiều lần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và lao động.
Để phòng bệnh đau thần kinh tọa, cần tập thể dục vừa sức thường xuyên để nâng cao thể lực, áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai, khỏe mạnh của các khối cơ lưng cạnh cột sống, cơ bụng và tăng sự mềm mại của cột sống. Tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Điều trị kịp thời các bệnh thoái hóa cột sống. Người bị đau thắt lưng tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức như golf, bóng chuyền, tennis, vác balô nặng. Không nên nằm đệm quá dày và mềm, giường lò xo.
Các động tác sinh hoạt, lao động hằng ngày phải thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng. Bảo đảm tư thế đúng khi đứng, ngồi, mang vác... hay nhấc vật nặng. Cần đứng trên tư thế thẳng, không rũ vai, gù lưng. Để tránh khom lưng, khi đọc và viết lâu, nên ngồi gần bàn viết, ghế không quá cao hoặc bàn viết không quá thấp. Nếu phải ngồi lâu, nên thường xuyên đứng lên và làm các động tác thể dục giữa giờ.
Trong lao động chân tay, cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân có thể đeo đai lưng khi mang vác vật nặng; hãy để cho trọng lượng của vật chia đều cả hai bên cơ thể, không bao giờ mang vật nặng ở một bên người hay trong thời gian dài. Khi muốn nhấc một vật nặng lên, nên co đùi gấp gối đôi chân gập lại vừa phải nhưng vẫn giữ lưng thẳng. Không nên giữ thẳng hai chân và cúi cong người xuống khi nhấc.

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Ớt chữa viêm khớp mãn tính

Quả ớt còn có nhiều tên gọi khác nhau như Lạt tử, Lạt tiêu, Ngưu giác tiêu…, có tên khoa học Capsium frutescens L; Capsium annuum L., thuộc họ Cà Solanaceae. Cây ớt là một cây nhỏ có thể sống vài năm, thân dưới hóa gỗ.


Cây có nhiều cành, nhẵn. Lá mọc so le, hình thuôn dài, đầu nhọn. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá. Các bộ phận của cây ớt như quả, rễ và lá đều dùng làm thuốc.
Theo Đông y, quả ớt có vị cay, nóng với tác dụng khoan trung, tán hàn, kiện tỳ, tiêu thực, chỉ thống (giảm đau), kháng nham (chữa ung thư...). Nhân dân thường dùng để chữa đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, đau khớp, dùng ngoài chữa rắn, rết cắn... Ngoài dùng làm thuốc chữa bệnh, nhân dân ta còn thường dùng lá ớt nấu canh ăn, quả ớt làm gia vị trong các món ăn.
Ớt giúp giảm đau, ngăn ngừa bệnh tim do chứa một số hoạt chất giúp máu lưu thông tốt, tránh được tình trạng đông vón tiểu cầu dễ gây tai biến tim mạch. Ớt còn có tác dụng ngăn ngừa tình trạng huyết áp tăng cao. Ớt rất tốt cho hệ miễn dịch, ngăn ngừa cảm cúm. Thường xuyên ăn ớt có thể giúp cơ thể kiểm soát được nồng độ insulin trong máu, điều này sẽ mang lại lợi ích cho người tiểu đường. Sau đây là một số tác dụng của ớt.
- Chữa bệnh chàm (eczema): Lá ớt tươi 1 nắm, mẻ chua 1 thìa. Hai thứ giã nhỏ, lấy vải sạch gói lại, đắp lên nơi bị chàm đã rửa sạch bằng nước muối.
- Chữa đau dạ dày do lạnh: Ớt trái 1-2 quả, nghệ vàng 20g, tán bột uống ngày 2-3 lần.
- Chữa viêm khớp mãn tính: Ớt trái 1-2 quả; dây đau xương, thổ phục linh (củ khúc khắc) mỗi vị 30g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Chữa đau thắt ngực: Ớt trái 2 quả, đan sâm 20g, nghệ đen 20g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Chữa rết cắn: Lá ớt giã nhỏ, đắp vào nơi bị thương, băng lại. Ngày làm 1-2 lần cho đến khi hết đau, 2-3 giờ là khỏi.
- Chữa rụng tóc do hóa trị liệu: Ớt trái 100g, ngâm với rượu trắng trong 10-20 ngày. Dùng rượu này bôi lên da đầu có tác dụng kích thích mọc tóc.
- Chữa tai biến mạch máu não: Lá ớt (loại ớt chỉ thiên quả nhỏ) đem giã nhỏ, thêm nước và ít muối, chắt nước cho người bệnh uống, bã đắp vào răng sẽ tỉnh.
- Chữa đau lưng, đau khớp: Ớt chín 15 quả, lá đu đủ 3 cái, rễ ớt chỉ thiên 80g. Tất cả đem giã nhỏ ngâm cồn với tỷ lệ 1/2, dùng để xoa bóp sẽ mau khỏi
- Chữa khản cổ: Dùng ớt làm thuốc súc miệng (dưới dạng cồn thuốc).
- Chữa bệnh vẩy nến: Lá ớt cay 1 nắm to (1 nắm chặt tay và đem sao chín nhưng không cháy), tinh tre đằng ngà cạo lấy 1 bát, lá sống đời (lá thuốc bỏng) 7-9 lá, thiên niên kiện khoảng 300g. Tất cả cho vào nồi với 2 lít nước, đun sôi kỹ, uống dần thay nước chè.
- Chữa đau bụng kinh niên: Rễ cây ớt, rễ chanh, rễ hoàng lực, mỗi thứ khoảng 10g. Sao vàng, sắc uống ngày 1 thang.
- Chữa ăn uống kém tiêu do ung thư: Ớt 100g, hắc đậu xị 100g, tán bột ăn hàng ngày.
- Chữa ăn uống chậm tiêu: Ớt trái dùng làm gia vị, ăn hàng ngày.
- Chữa mụn nhọt: Lá ớt giã nát với ít muối, dùng đắp vào nhọt đang mưng mủ sẽ bớt đau nhức, dễ vỡ mủ, mau lành.
- Phòng chống ung thư tuyến tiền liệt: Capsaicin trong ớt ngăn chặn sự phát triển của bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Trung bình mỗi tuần cần ăn khoảng 5 quả ớt).

- Giảm đau do ung thư, đau khớp: Ăn 5-10g ớt mỗi ngày.

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Điều trị suy giãn tĩnh mạch chân thế nào?

Suy giãn tĩnh mạch chân, suy van tĩnh mạch nông (sâu) chi dưới, là một bệnh lý khá phổ biến, tỉ lệ người mắc bệnh này ngày càng tăng cao, tuy nhiên nhiều người không biết mình mắc bệnh, không điều trị kịp thời nên bệnh tiến triển nặng rất khó chữa, thậm chí biến chứng nặng không đi lại được.

Tĩnh mạch nông ở chân bị suy giãn có thể nhìn thấy được
Bệnh thường xảy ra ở những người làm công việc hay nghề nghiệp đòi hỏi ngồi nhiều, đứng lâu, ít vận động như nhân viên văn phòng, tài xế, giáo viên, nhân viên bán hàng, cảnh sát giao thông, phụ nữ sau sanh, người béo phì, người cao tuổi...
1. Mắc bệnh nhưng không biết
Suy giãn tĩnh mạch là do những van tĩnh mạch ở chân bị suy, giãn, tổn thương mất dần chức năng đưa máu về tim, gây ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch. Suy tĩnh mạch chân tuy phổ biến nhưng đa số người bệnh không biết mình bị bệnhvì triệu chứng không rõ ràng, dễ nhầm lẫn với chứng viêm khớp, đau khớp, viêm thần kinh tọa… Khi bị đau chân, nặng chân, người bệnh thường nghĩ rằng mình bị bệnh về khớp và thường tìm đến bác sĩ khớp, cũng như khi bị vọp bẻ (chuột rút) ở chân, hầu như mọi người đều nghĩ mình bị thiếu calci. Không phát hiện sớm để điều trị kịp thời hoặc điều trị không đúng bệnh sẽ làm bệnh tiến triển nặng, khó chữa.
2. Biểu hiện bệnh Suy Giãn Tĩnh Mạch
Theo các bác sĩ chuyên khoa, ở giai đoạn sớm, người bệnh thường bị đau chân, nặng chân, nhức mỏi chân khi đứng lâu hoặc ngồi nhiều. Ban đêm, thường bị chuột rút (vọp bẻ), cảm giác tê chân, châm chích, như có kiến bò vùng cẳng chân…
Khi bệnh tiến triển, đứng lâu, ngồi nhiều liên tục chân sẽ bị phù, thường thấy vào buổi chiều sau một ngày làm việc. Phù ở vùng mắt cá chân, bàn chân, mang giày dép thấy chật hơn so với bình thường. Thấy tĩnh mạch nổi li ti nhất là vùng cổ chân và bàn chân.
3. Biến chứng nặng nếu không điều trị kịp thời
Người bệnh thường không biết mình mắc bệnh, không đi khám và điều trị kịp thời. Các triệu chứng bệnh sẽ nặng dần. Vùng cẳng chân xuất hiện chàm da, thay đổi màu sắc da; các tĩnh mạch nông dưới da giãn to ngoằn ngoèo. Đi lại rất khó khăn, có thể không đi lại được.

Các giai đoạn biến chứng nặng dần của bệnh suy giãn tĩnh mạch chân
Giai đoạn cuối có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị.
Nguy hiểm nhất là có thể xuất hiện cục máu đông trong tĩnh mạch, trôi về tim và gây tắc mạch máu phổi. Đây là một biến chứng rất nặng có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.
4. Chẩn đoán, phát hiện bệnh sớm
Nếu bạn có các triệu chứng đau nhức ở chân như trên thì rất có thể bạn đang bị suy giãn tĩnh mạch chân.
Thông thường, người bệnh có thể nhìn thấy những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn ngoèo, chân bị phù nề, ngứa ngáy, căng nặng, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và sự xuất hiện của các u máu.

Nổi nhiều gân xanh khi bị suy tĩnh mạch nông, chân bị sưng phù, vết thương lâu lành
Siêu âm Doppler màu mạch máu 2 chi dưới là một phương pháp chẩn đoán an toàn, cho kết quả ngay với mức độ chính xác từ 95-99%. Siêu âm Doppler màu tĩnh mạch cho phép thấy hình ảnh đoạn tĩnh mạch bị dãn, các van tĩnh mạch bị suy mất chức năng và thấy được có cục máu đông hình thành trong lòng tĩnh mạch hay không. Các bệnh viện lớn, bệnh viện thành phố, bệnh viện quận đều có thực hiện siêu âm này.
5. Điều trị hiệu quả như thế nào?
Không giống như bệnh cảm sốt, nhức đầu thông thường có thể khỏi sau vài ngày điều trị. Suy giãn tĩnh mạch chân là bệnh lý mãn tính, là một dạng lão hóa của cơ thể, việc điều trị bệnh đòi hỏi sự kiên trì, kết hợp giữa việc dùng thuốc, mang vớ ép và kiêng cữ trong hoạt động hàng ngày. Người bệnh cần lựa chọn và kiên trì theo đuổi một quy trình điều trị để có kết quả tốt nhất.
Đến nay, trong Dược điển tiêu chuẩn Mỹ chưa có thuốc tây y nào điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch chân. Duy chỉ có thảo dược được nghiên cứu nhiều trong điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch chân là cao hạt dẻ ngựa (tên khoa học Aesculus hippocastanum). Cao hạt dẻ ngựa được nghiên cứu trên 12.000 bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch chân. Kết quả cho thấycao hạt dẻ ngựa có tác dụng rất tốt, giảm đau chân (91%); giảm nặng chân (85%); giảm sưng phù chân (84%); giảm ngứa chân; giảm sưng mắt cá chân và bắp chân. Nghiên cứu cũng cho thấy cao hạt dẻ ngựa cho hiệu quả tương đương với mang vớ ép, hơn nữa người bệnh dễ tuân thủ hơn so với mang vớ ép.
Chuyên gia Michelle Orengo-Mc Farlane, giảng viên Khoa Y học Gia đình và Cộng đồng tại Đại học California, San Francisco - Mỹ đã tóm tắt nghiên cứu về cao hạt dẻ ngựa trong điều trị bệnh giãn tĩnh mạch chân tại website: http://sfghdean.ucsf.edu/barnett/EBM/JClub/0508OrengoHorse.ppt
Sản phẩm khuyên dùng: Venpoten - Viên bổ tĩnh mạch chân


Công dụng:
- Giảm đau chân, nặng chân.
- Giảm sưng phù chân.
- Tăng độ bền tĩnh mạch chân.
- Dùng cho người suy giãn tĩnh mạch chân.
Mô tả: Venpoten là sản phẩm thảo dược cao cấp của New Zealand chiết xuất từ hạt dẻ ngựa và hoa hòe.
Trong y học hiện đại, nụ hòe và rutin được dùng làm thuốc cầm máu trong các trường hợp xuất huyết, đề phòng tai biến do mạch máu bị xơ vữa, giòn, dễ vữa, khi có biểu hiện về tổn thương mao mạch, xuất huyết dưới da, xuất huyết võng mạc, xuất huyết có liên quan đến xơ vữa động mạch, tăng huyết áp. Rutin thường được dùng cho những bệnh nhân tăng huyết áp, mao mạch dễ vỡ để đề phòng đứt mạch máu não, xuất huyết cấp tính do viêm thận.
Phối hợp hiệp lực giữa chiết xuất hạt dẻ ngựa và rutin trong Venpoten làm gia tăng hơn nữa hiệu quả điều trị trị bệnh giãn tĩnh mạch chân. Dùng 2 viên Venpoten mỗi ngày sau 2-4 tuần người bệnh sẽ cảm thấy bớt đau chân, bớt nặng chân, chân giảm phù nề, bớt tê và bớt khó chịu ở chân. Venpoten có thể dùng lâu dài để giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị chứng giãn tĩnh mạch chân.

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Suy giãn tĩnh mạch chân

Suy giãn tĩnh mạch chân hay còn gọi là suy giãn tĩnh mạch chi dưới hay suy van tĩnh mạch chi dưới là thuật ngữ chỉ sự suy giảm chức năng đưa máu trở về tim của hệ thống tĩnh mạch nằm ở vùng chân dẫn đến hiện tượng máu ứ đọng lại sẽ gây ra những biến đổi về huyết động và biến dạng tổ chức mô xung quanh, gây ra các triệu chứng như nhức mỏi, nặng chân, phù chân, tê dị cảm, kiến bò, vọp bẻ (chuột rút) về ban đêm... có thể dẫn đến các biến chứng khó chữa như chàm da, loét chân không lành (nhất là ở người già), chảy máu, giãn lớn các tĩnh mạnh nông, viêm tĩnh mạch nông huyết khối, huyết khối tĩnh mạch sâu...

Hình vẽ mô tả cơ chế suy giãn tĩnh mạch chân
Suy tĩnh mạch, theo lý thuyết có thể xảy ra ở bất kỳ tĩnh mạch nào trên cơ thể. Kế cả ở tay, nhưng trên thực tế phần lớn các trường hợp mắc phải đều xảy ra ở chi dưới tức chân do hệ thống tĩnh mạch chi dưới dài hơn, phức tạp và nhất là chịu ảnh hưởng của trọng lực khi người bệnh phải đứng nhiều. Trên thế giới, bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới chiếm một tỉ lệ đáng kể trên số dân, trong đó 70% là nữ. Ở Việt Nam có dự đoán bệnh sẽ gia tăng gia tăng do sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống. Suy giãn tĩnh mạch chân mạn tính thường ít nguy hiểm nhưng sẽ gây cho người mắc bệnh cảm giác khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Triệu chứng
Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng ban đầu của bệnh suy tĩnh mạch chi dưới cũng thường mờ nhạt và thoáng qua, người bệnh thường có biểu hiện: đau chân, nặng chân, mỏi chân, phù nhẹ khi đứng lâu ngồi nhiều, vọp bẻ, chuột rút vào buổi tối, châm chích, dị cảm như kiến bò vùng cẳng chân về đêm. Những triệu chứng này thường không rõ ràng nên người bệnh ít chú ý và dễ bỏ qua.
Giai đoạn tiến triển bệnh sẽ gây phù chân, có thể phù ở mắt cá hay bàn chân, đôi khi người bệnh chỉ có cảm giác mang giày dép chật hơn bình thường. Vùng cẳng chân xuất hiện chàm da, thay đổi màu sắc da do máu ứ ở tĩnh mạch lâu ngày làm rối loạn biến dưỡng. Các tĩnh mạch trương phồng lên gây cảm giác nặng, đau nhức chân, máu thoát ra ngoài mạch gây phù chân, nặng hơn thì có thể thấy các búi tĩnh mạch trương phồng nổi rõ trên da, các mảng bầm máu trên da...
Gây loét da cẳng chân. Lúc đầu loét chân có thể tự lành, sau đó bệnh tiếp tục tiến triển, các vết loét không tự lành mà có nguy cơ nhiễm trùng, điều trị rất phức tạp. Ngoài các dấu hiệu trên, những tĩnh mạch nông dưới da ở cẳng chân và đùi giãn to ngoằn ngoèo. Giai đoạn đầu chỉ thấy tĩnh mạch nổi li ti, nhất là ở cổ chân và bàn chân. Lâu ngày, các tĩnh mạch này giãn to, có khi giãn hơn 10mm.
Nhìn chung, biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân giãn tĩnh mạch có thể thay đổi và nhiều bệnh nhân có thể không có hay biểu hiện triệu chứng rất ít. Các triệu chứng biểu hiện chưa rõ tại chỗ tĩnh mạch giãn như đau ngứa hay cảm giác nóng bỏng. Triệu chứng ở chân bị giãn tĩnh mạch như đau chân, mỏi chân, sưng chân. Nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới do chịu ảnh hưởng của nội tiết. Các triệu chứng thường nặng lên khi về cuối ngày, đặc biệt là sau khi đứng lâu.
Nếu bệnh nhân có các triệu chứng của suy tĩnh mạch chân, nên đến khám và theo dõi tại các phòng khám chuyên khoa tim - mạch máu để được hướng dẫn chẩn đoán và điều trị cụ thể. Đặc biệt nếu thấy chân sưng nhanh và đau nhiều, hoặc thấy khó thở, đau ngực đột ngột phải đến bệnh viện khám ngay vì đó có thể là biểu hiện của tắc tĩnh mạch chân hoặc động mạch phổi, là những biến chứng nguy hiểm của suy van tĩnh mạch.
Nguyên nhân
Nguyên nhân của bệnh suy giãn tĩnh mạch chân mạn tính chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, đã xác định bệnh liên quan đến một số yếu tố nguy cơ suy giãn tĩnh mạch chân gây ra do tổn thương chức năng các van một chiều của hệ tĩnh mạch ngoại biên. Các van này bị tổn thương là do:
- Quá trình thoái hóa do tuổi tác (thường gặp ở người già). Tuổi thọ con người ngày càng cao sẽ kéo theo những bệnh của quá trình tích tuổi trong đó có suy tĩnh mạch...
- Do tư thế sinh hoạt hay làm việc phải đứng hay ngồi một chỗ lâu, ít vận động, phải mang vác nặng... tạo điều kiện cho máu bị dồn xuống hai chân, làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch ở chân, lâu ngày sẽ gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều. Khi các van này bị suy yếu sẽ giảm khả năng ngăn chặn luồng máu chảy ngược xuống dưới do tác dụng của trọng lực, dẫn đến ứ máu ở hai chân.
- Các yếu tố nguy cơ như: chế độ làm việc (phải đứng nhiều, làm việc trong môi trường ẩm thấp), béo phì, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin.
Hậu quả
Suy giãn tĩnh mạch chân không nguy hiểm đến tính mạng, chỉ gây khó chịu, đau đớn và mất thẩm mỹ, cản trở sinh hoạt. Tuy nhiên biến chứng của bệnh này là sự hình thành các cục máu đông trong lòng tĩnh mạch, các cục máu này có thể gây tắc mạch máu tại chỗ hoặc di chuyển theo dòng máu và gây tắc mạch chỗ khác, trong đó nguy hiểm nhất là tắc mạch phổi, có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong.
Có đến 77,6% các bệnh nhân không biết mình mắc bệnh. Ngoài ra, họ còn ngại đi khám, không điều trị hoặc điều trị không đúng. Điều này dẫn đến những hậu quả rất khó lường, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Có ba biến chứng mà người mắc bệnh suy và giãn tĩnh mạch chân có thể gặp phải nếu không được điều trị đúng cách, là huyết khối (máu đông), xuất huyết (chảy máu) và loét chân.
Các tĩnh mạch giãn to nếu không được lấy bỏ sẽ có nguy cơ tạo lập cục máu đông, gây viêm tĩnh mạch nông huyết khối. Các cục máu đông tạo lập trong lòng mạch có thể bong ra, theo dòng máu trôi ngược lên phổi, làm tắc mạch phổi, nguy cơ tử vong cao. Các tĩnh mạch giãn to dần đến một lúc nào đó sẽ bị vỡ khi chấn thương hay va chạm nhẹ, gây xuất huyết, bầm máu. Sự rối loạn biến dưỡng da ở cẳng chân lâu ngày sẽ dẫn đến chàm, tăng sắc tố da và loét chân do ứ đọng. Tình trạng loét chân do tĩnh mạch là một biến chứng rất khó điều trị.
Phòng trị
Suy giãn tĩnh mạch là bệnh lý mang tính xã hội, liên quan nhiều đến chế độ ăn uống và làm việc. Vì vậy khuyến cao chung là nên tránh đứng lâu, ngồi nhiều, nhất là nhân viên văn phòng, không nên ngồi làm việc một chỗ liên tục trong suốt buổi làm việc, tranh thủ giải lao vài phút trong khoảng thời gian làm việc từ 30-60 phút. Trong lúc ngồi làm việc, có thể phối hợp các bài tập vận động chân để máu lưu thông tốt. Ăn nhiều rau quả, chất xơ, vitamin. Nên tập thể dục để giảm cân như: đi bộ với tốc độ nhanh, bơi lội, đi xe đạp, tập dưỡng sinh.
Để làm chậm tiến triển của bệnh, cần loại bỏ những thói quen có hại là đứng, ngồi lâu, khiêng vác nặng... Nếu bệnh ở giai đoạn nhẹ, có thể điều trị làm giảm triệu chứng bằng các thuốc tăng trương lực tĩnh mạch, phối hợp với mang vớ thun (vớ tĩnh mạch) tạo áp lực ngăn máu chảy ngược (bas contention). Nếu bệnh ở giai đoạn nặng gây đau nhiều và nổi nhiều búi mạch, có thể phải cần đến phương pháp phẫu thuật lấy bỏ bớt một vài tĩnh mạch ở chân.
Đối với người làm công tác văn phòng, đánh máy phải ngồi nhiều nên tránh ngồi liên tục bất động suốt 8h làm việc vì như thế sẽ không tốt cho bệnh suy tĩnh mạch mạn tính, cũng như bệnh mạch vành. Nên tranh thủ đi lại giải lao khoảng 30-60 phút/lần. Trong lúc ngồi làm việc, có thể phối hợp tập các bài tập vận động chân như: co duỗi các ngón chân, gập duỗi cổ chân, nhón gót... để máu lưu chuyển tốt hơn. Tập thể dục bằng cách đi bộ nhanh, vừa đi vừa nghỉ, gác chân cao cũng tốt cho bệnh tĩnh mạch. Bổ sung đủ bằng chế độ ăn giàu trái cây rau tươi.
Đi bộ là phương pháp tập luyện quan trọng. Tuy nhiên trong bệnh suy tĩnh mạch chi dưới, đi bộ không phải là giải pháp tối ưu nhất, và nếu đi bộ không đúng cách cũng có thể làm bệnh nặng thêm. Nên đi bộ ít hơn, không đi quá xa, phải đi bộ với vận tốc nhanh, tránh đi liên tục mà nên vừa đi vừa nghỉ, ngối gác chân cao. Nếu đã suy tĩnh mạch nhiều, phải mang vớ trong khi đi bộ. Nếu có điều kiện, bơi lội là môn hể thao thích hợp nhất cho bệnh lý này.

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Viagra từ động vật

Bài 1: Cá ngựa đã chế biến 30g, bàn long sâm 30g, cốt toái bổ 20g, long nhãn 20g. Tất cả ngâm với 1 lít rượu trắng trong 5 - 7 ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống 20 - 40ml.


Bài 2: Tắc kè 50g, ba kích, hà thủ ô, hoàng tinh hoặc thục địa mỗi vị 100g; đại hồi 10g. Tắc kè ngâm với đại hồi trong rượu 35 độ để được 300ml. Các dược liệu khác cũng ngâm với rượu 35 độ để được 700ml. Hòa lẫn hai rượu với nhau, thêm 100g đường kính (đã nấu thành sirô) để thành 1 lít dung dịch. Lọc kỹ, ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần 15 - 20ml sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ.


Bài 3: Chim bìm bịp 2 con (1 lớn, 1 nhỏ) làm thịt, để tươi; tắc kè 1 con, làm thịt, phơi khô; củ sâm cau 100g phơi khô. Tất cả ngâm với 1 lít rượu 30 - 40 độ, càng lâu càng tốt. Ngày 2 lần, mỗi lần uống 30ml.


Bài 4: Thịt chó 500g, thái thành miếng, nêm vào hồi hương, tiểu hồi hương, vỏ quế, thảo quả, gừng tươi và muối với lượng thích hợp cho vào nồi hầm nhừ, ăn thịt và nước hầm khi còn nóng ấm. 10 - 15 ngày nên ăn 1 lần. Ăn 4 - 6 lần là một liệu trình.


Bài 5: Thịt dê 250g, rửa sạch, thái miếng cho 400ml nước vào đun cho nhỏ lửa tới nhừ. Khi thịt dê đã nhừ cho thêm 25g tôm nõn, 5 lát gừng tươi, muối ăn vừa đủ, đun thêm 10 phút, bắc ra ăn lúc nóng.



Bài 6: 5 - 6 con chạch loại to vừa, tươi sống. Làm sạch nhớt, bỏ ruột, bảo toàn bộ xương. Đổ dầu rán mềm xương rồi cho thịt chạch vào rán để khử bớt nước. Nên dùng ít dầu để khử tanh. Thêm 300ml rượu hoặc 600ml nước. Vài lát gừng. Dùng lửa nhỏ đun lâu đến lúc nước thang có màu trắng sữa và còn lại 1/2 là được. Bỏ lớp dầu trắng sữa, phần nước và thịt còn lại cho muối vừa ý, ăn cái và nước canh thang.

   

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Cỏ xước chữa nhức xương

Cây cỏ xước có tên khoa học là Achyranthes aspera L., họ Rau dền – Amaranthaceae hay cây cỏ xước còn được biết đến với tên Ngưu tất nam.


 Cỏ xước là một loại thân thảo sống lâu năm, có thể cao tới gần 1m, thân có lông mềm. Lá hình trứng, mọc đối, mép lượn sóng. Hoa nhiều, mọc thành bông ở ngọn, dài 20-30 cm. Quả nang là một túi, có thành rất mỏng, có lá bắc nhọn như gai, dễ mắc vào quần áo khi ta đụng phải. Hạt hình trứng dài. Để dùng làm thuốc, người ta nhổ toàn cây (liền cả rễ), rửa sạch, thái ngắn, dùng tươi hoặc phơi khô dùng dần.
Theo Đông y: Cỏ xước có vị đắng, chua, tính bình, có tác dụng phá huyết, tiêu ứ; sao chín có tác dụng mạnh gân xương, bổ can thận. Dùng chữa phong thấp tê mỏi, cước khí, ngã sưng đau. Dùng trong bệnh viêm khớp, sau khi sinh máu hôi không sạch. Ngoài ra, cây có xước còn có tác dụng giảm Cholesteron trong máu, chữa xơ vữa động mạch, huyết áp cao, chấn thương sưng đau tụ máu. Liều dùng: 15-30g sắc uống; dùng ngoài giã đắp. Kiêng kỵ: Phụ nữ đang có thai kiêng dùng.
Sau đây là một số tấc dụng chữa bênh của có xước:
- Chữa đái ra máu: Dùng rễ cỏ xước 20g, củ mài (sao vàng) 40g, hạt sen (sao vàng) 40g, bông mã đề lá trắc bách diệp (sao cháy), cỏ nhọ nồi (sao đen); tất cả tán thành bột mịn; ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g.
- Chữa phù thũng, vàng da: Dùng cỏ xước, rễ cỏ tranh, bông mã đề, dây khố rách - mỗi thứ 20-25g; sắc nước uống.
- Chữa sốt nóng, sổ mũi: Dùng cỏ xước, lá diễn, đơn buốt - mỗi thứ 30g; sắc nước uống.
- Viêm đa khớp dạng thấp: Rễ cỏ xước tẩm rượu sao 20g, độc hoạt 12g, tang ký sinh 16g, dây đau xương 16g, tục đoạn 12g, đương quy 12g, thục địa 12g, bạch thược 12g, đảng sâm 12g, tần giao 12g, quế chi 8g, xuyên khung 8g, cam thảo 6g, tế tân 6g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, trong 10 ngày.
- Chữa quai bị: Dùng rễ cỏ xước, chế thêm nước, giã nát; gạn lấy nước xúc miệng và uống trong; bên ngoài giã rễ cỏ xước đắp lên chỗ sưng đau.
-Chữa suy thận, phù thũng, nặng chân, vàng da: Rễ cỏ xước sao 30g, mã đề cả cây 30g, cúc bách nhật cả cây 30g, cỏ mực 30g, sắc ngày uống 1 thang, chia 2 – 3 lần, uống liền trong 7 – 10 ngày.
- Chữa miệng lưỡi lở loét: Dùng cỏ xước một nắm, tẩm rượu nhai ngậm nuốt nước hoặc sắc nước ngậm và uống.
-Chữa vàng da do tắc mật: Dùng cỏ xước 100g, gan lợn 1 bộ, nấu chung với nhau cho thật nhừ, chắt lấy nước; chia ra uống trong ngày.
- Chữa nhiễm sơn lam chướng khí, mê man nguy cấp: Dùng lá cỏ xước một nắm to (khoảng 30g); sắc nước uống (Nam dược thần hiệu).
- Chữa tiểu tiện đau buốt: Dùng cỏ xước một nắm (khoảng 20g); sắc nước uống (Nam dược thần hiệu).
- Chữa đái đục: Dùng rễ cỏ xước 20g, củ mài 20g, ý dĩ 40g, rễ cỏ tranh 12g, rễ bấn trắng 12g, bông mã đề (sao) 12g; sắc nước uống trong ngày.
- Chữa hóc xương thông thường: Dùng lá cỏ xước một nắm, nhai nuốt dần nước, bã đắp ở cổ.
- Chữa đau nhức xương khi thời tiết thay đổi: Cỏ xước, 15-20g, sao vàng, hạ thổ, sắc nước uống trong ngày; uống theo từng đợt (15 ngày cho 1 liệu trình); rễ cỏ xước 40g, rễ lá lốt 20g, có thể thêm thân và rễ cây ké đầu ngựa 40g; sắc nước uống;
- Chữa đau thần kinh tọa: Dùng rễ cỏ xước 20g, lá lốt 16g, thiên niên kiện 12g, củ ráy sao 12g, tô mộc 12g, cẩu tích 12g, đỗ trọng 16g, ngải cứu 12g, ý dĩ 20g, lá thông 12g, nước 1000ml sắc còn 300ml; chia 2 lần uống trong ngày.
- Chữa viêm mũi dị ứng: Rễ cỏ xước 30g, lá diễn, đơn buốt mỗi vị 20g sắc với 400ml nước còn 100ml. Uống trong ngày, nên uống khi thuốc còn ấm. Dùng trong 5 ngày.
- Chữa kinh nguyệt không đều, huyết hư: Rễ cỏ xước 20g, cỏ cú (tứ chế) 16g, ích mẫu 16g, nghệ xanh 16g, rễ gai 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, uống 10 ngày.

DS. MỸ NỮ

Nhân trần chữa bệnh vàng da

Nhân trần có tên khoa học Adenosma glutinosum, tên khác là chè nội, chè cát, hoắc hương núi, tuyến hương, mao xạ hương... Nhân trần là loài cây nhỏ, sống hằng năm, mọc hoang ở đồi núi, bờ ruộng hoặc được trồng để làm thuốc, cây cao khoảng 30cm đến 1m, thân màu tím, có lông trắng mịn.


Lá mọc đối, hình trứng, đầu lá dài và nhọn, mép có răng cưa, hai mặt lá có nhiều lông mịn, toàn thân và lá có mùi thơm. Hoa mọc thành chùm dạng bông ở kẽ lá, tràng hoa màu tím xanh, môi trên hình lưỡi, môi dưới xẻ thành năm thuỳ đều nhau.
Quả nang có nhiều hạt nhỏ. Cây ra hoa, có quả từ tháng 4 đến tháng 7. Bộ phận được dùng làm thuốc là cả cây (trừ rễ), thu hái về mùa hè, phơi khô.
Theo Đông y, nhân trần vị hơi đắng, tính hơi hàn, có công dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lợi mật, được dùng để chữa các chứng hoàng đản, tiểu tiện bất lợi, viêm loét da do phong thấp, bệnh về gan mật (mỗi ngày 8- 16g, sắc uống).
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, nhân trần có tác dụng làm tăng tiết và thúc đẩy quá trình bài xuất dịch mật, bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa tình trạng gan nhiễm mỡ, làm hạ huyết áp, thúc đẩy tuần hoàn, giải nhiệt, giảm đau và chống viêm và có khả năng ức chế một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, thương hàn, phó thương hàn, mủ xanh, e.coli, lỵ, song cầu khuẩn gây viêm não, viêm phổi và một số loại nấm.
Nhân trần giúp cải thiện công năng miễn dịch và ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư. Trên lâm sàng, nhân trần đã được sử dụng để điều trị các bệnh: viêm gan truyền nhiễm cấp tính thể vàng da, vàng da tán huyết do thương hàn ở trẻ sơ sinh, giun chui ống mật, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành, eczema dai dẳng ở trẻ em, viêm loét miệng, nấm da...
 Sau đây là một số tác dụng của nhân trần:
- Chữa viêm gan giai đoạn có di chứng như rối loạn tiêu hóa, chán ăn, đầy bụng chậm tiêu: Mạch nha 500 g, nhân trần 500 g, quất bì 250 g; tất cả sấy khô, tán vụn, mỗi ngày dùng 60 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
- Chữa viêm gan vàng da cấp tính có sốt: Nhân trần 300 g, sinh đại hoàng 60 g, trà 30 g. Ba vị tán vụn, mỗi ngày lấy 30 g hãm với nước sôi trong bình kín trong 10-15 phút, uống thay trà trong ngày.
- Chữa các bệnh do thấp nhiệt gây ra và điều trị viêm gan cấp hoặc mạn tính: Nhân trần 30 g thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín trong 15 phút, pha thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày.
- Dùng để phòng chống viêm gan, viêm túi mật, sỏi mật: Râu ngô 300 g, nhân trần 150 g, bồ công anh 150 g. Tất cả cắt vụn, mỗi ngày dùng 50 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Chú ý, không nên uống nhân trần dài ngày và phụ nữ có thai không nên dùng.

DS. MỸ NỮ

8 lợi ích của thức dậy sớm

Những con “cú đêm” có thể rất thích ngủ nướng nhưng phần lớn cuộc sống lại đang diễn ra vào ban ngày, nếu bạn không chịu thức dậy sẵn sàng cho ngày mới sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội quý giá.

Lợi ích lớn nhất của việc dậy sớm là mọi việc diễn ra trật tự, theo đúng kế hoạch. Dậy sớm đồng nghĩa với việc bạn không phải vội vã, tất bật sợ không kịp giờ, hoặc có thể dành riêng cho mình một chút thời gian yên tĩnh ở văn phòng. Dậy sớm không phải là điều dễ dàng, thậm chí đối với những người quen với nó cũng thỉnh thoảng không thể cưỡng lại sự quyến rũ của giấc ngủ. Thật vui khi biết rằng ta mở mắt ra, thế giới là của riêng ta dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, cho đến khi tất cả mọi người đều thức dậy.
1. Thêm thời gian cho bản thân
Khi dậy sớm, bạn có thêm thời gian và thong thả hơn để tắm táp thư giãn, sắp xếp nhà cửa gọn gàng, hoặc chỉ đơn giản xem lại chương trình bỏ lỡ đêm qua, nghe tin tức buổi sáng. Không có điện thoại hay email quấy rầy lúc sáng sớm, bạn có thể sử dụng khoảng thời gian đó theo ý thích như tập thể dục, đọc báo, xem những kênh truyền hình mà bạn đời không thích. Rất nhiều cha mẹ có con nhỏ cảm thấy buổi sáng sớm chính khoảng thời gian duy nhất trong ngày được nhâm nhi tách cà phê hoặc thư giãn trước khi bắt đầu một ngày mới.
2. Tập thể dục thường xuyên hơn
Động cơ luyện tập của con người đạt mức cao nhất là vào buổi sáng. Nhiều báo cáo chỉ ra rằng mọi người hứng thú với việc tập thể dục vào buổi sáng và sẽ luyện tập thường xuyên hơn buổi chiều hoặc buổi tối. Chưa được kiểm nghiệm nhưng một số chuyên gia tin rằng tập thể dục vào buổi sáng khi bụng đói buộc cơ thể đốt cháy lượng mỡ nhiều hơn thay vì các nhóm calo khác.
Một nghiên cứu được công bố trước đây của tạp chí Sleep cho thấy luyện tập vào buổi sáng giúp con người dễ ngủ hơn vào buổi tối. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng hoạt động vào buổi sáng giúp sắp xếp nhịp ngày đêm của cơ thể nhịp nhàng hơn. Thử nghiệm trên những người bị trì hoãn bài tập thể dục vào buổi sáng cho thấy họ khó ngủ hơn vào buổi tối so với nhóm được luyện tập.
3. Tránh ùn tắc giao thông
Ở một số thành phố lớn, sự khác biệt giữa lưu thông nhanh, chậm hay ùn tắc có thể xảy ra chỉ trong vòng 15 phút. Dậy sớm để tránh tắc đường không những giúp bạn thong thả hơn mà còn đảm bảo an toàn. Việc phóng nhanh, vượt ẩu chỉ vì tránh tắc đường hoặc đơn giản tài xế đang bị trễ giờ có thể dẫn đến những hành vi hung hăng, không sáng suốt và tăng nguy cơ tai nạn. Đối với những người di chuyển bằng phương tiện công cộng sẽ thấy sự khác biệt giữa việc dễ dàng tìm được chỗ ngồi khi đi sớm và việc chen chúc, nhồi nhét giữa vô số người và gắng sức níu chặt dây đai khi xe tăng tốc.
4. Lợi ích của điểm tâm
Đối với những người dậy trễ và không kịp thời gian thì việc đầu tiên họ làm chính là quýnh quáng ăn sáng. Người dậy quá trễ thường có xu hướng bỏ bữa sáng và đợi đến giờ ăn trưa. Vô số nghiên cứu đã chỉ ra những tác dụng tích cực của bữa sáng đối với sức khỏe: Người dậy sớm có thời gian chuẩn bị hoặc lựa chọn bữa sáng cho mình sẽ khỏe mạnh và có trọng lượng tốt hơn những người không ăn sáng. Thức dậy sớm cho ta thêm thời gian để nạp năng lượng từ bữa điểm tâm thay vì chộp lấy thức ăn, nhai vội vàng hoặc thậm chí là bỏ bữa.
5. Việc nhà
Bạn có thời gian vào buổi sáng để dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị đồ ăn cho cả ngày, hoặc làm những việc lặt vặt, thì có thể dùng buổi tối để thư giãn và vui chơi với gia đình và bạn bè. Hầu hết mọi người đều mong muốn sử dụng buổi tối của họ để xem phim hay thong thả ăn tối cùng gia đình hơn là làm việc nhà. Hoàn thành việc vặt của bạn vào đầu ngày giúp cho ước muốn đó trở nên khả thi hơn.
6. Năng suất cao hơn
Một cuộc khảo sát 20 CEO tại các công ty lớn như Pepsi, Motorola, Avaya, và Xerox trước đây tìm ra điểm chung giữa họ là tất cả đều dậy trước 6h sáng. Họ sử dụng thời gian để giải quyết công việc trên email, tập thể dục, đọc báo, hoặc làm những việc vặt trong gia đình. Tất cả người trả lời khảo sát nói rằng việc dậy sớm có ảnh hưởng vô cùng quan trọng tới năng suất làm việc của họ.
7. Tăng cường trí tuệ
Có một số bằng chứng cho rằng não của con người hoạt động ở mức độ cao nhất vào buổi sáng. Trong một đề tài nghiên cứu được tiến hành ở trường Đại học Bắc Texas, các sinh viên báo cáo rằng người dậy sớm có chỉ số GPAs (điểm số trung bình học kỳ) cao hơn những người dậy muộn.
8. Giảm stress
Khi dậy sớm, bạn sẽ duy trì được trạng thái thư giãn và thoải mái suốt cả ngày. Những công việc như chuẩn bị cho bản thân, chuẩn bị cho con cái đi học, di chuyển đến nơi làm việc và hoàn thành những công việc khác trong buổi sáng có thể khiến bạn vô cùng mệt mỏi và căng thẳng.
Giảm stress có ảnh hưởng tốt tới sức khỏe, hạn chế nhức đầu, cao huyết áp, đau dạ dày, rụng tóc và lo âu. Cơ quan quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (OSHA) đã ước tính rằng tác hại do stress gây ra trên người lao động tiêu tốn khoảng 300 triệu USD mỗi năm. Khi tạo ra cho mình thêm một khoảng thời gian vào buổi sáng, bạn sẽ không còn phải tất bật, vội vã mỗi ngày.

(Theo Care 2)

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Bọt xà phòng trong tách… cà phê

Cà phê độn bơ, bắp, hương liệu, hóa chất trong sản xuất thuốc kháng sinh, trong sản xuất xà phòng chỉ để có một ly cà phê đúng “gu” của khách. Tất nhiên, những người ghiền loại cà phê này đang mang trong mình mầm của những căn bệnh mãn tính và cả ung thư…


Cà phê – 1vốn 10 lời
Anh N.V.Đ. – từng làm nhân viên một cơ sở chế biến cà phê trên đường Lê Đức Thọ (Gò Vấp, TPHCM) – cho biết: “Với cách làm của chủ cũ anh thì đây là ngành kinh doanh một vốn bốn năm lời”. Anh khẳng định: “Đồ nghề chỉ cần một máy trộn, một máy xay và hai cái thau”.
Để có thứ bột “đen đen, đắng đắng”, anh Đ. “bật mí”: công thức pha chế thường là: 1kg bơ + 1kg cà phê hạt+ 1kg bột bắp. Sau khi rang cà phê hạt và bột bắp, tất cả được đổ vào máy xay chung với bơ. Sau đó, hỗn hợp này cần sự hỗ trợ của hương hóa chất, chất tạo độ đắng, sánh.
Nhiều quán còn châm thêm một số hóa chất để tạo hương vị đặc biệt cho cà phê của quán. Hiện nay nhiều khách còn thích cà phê nhiều bọt nên cho thêm hóa chất tạo bọt vào hỗn hợp. Những hóa chất ấy có thể dễ dàng tìm thấy tại các cơ sở bán hóa chất công nghiệp.
Theo anh Đ., không chỉ cà phê đường phố, phần lớn lượng cà phê này được bỏ mối vào các quán, nhiều nhất là các quán ở ngoại thành. Do giá “ưu đãi” và khoản hoa hồng 10% nên loại cà phê này cũng được tiêu thụ nhanh. Chỉ riêng tại Q. Bình Thạnh và Thủ Đức, mỗi ngày cơ sở anh cũng bán được 40-50 kg.
Uống bọt xà phòng
Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Diệp – phó khoa dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm Viện Vệ sinh y tế công cộng – cho biết: “Chất tạo bọt mà một số cơ sở tẩm vào cà phê chính là sodium lauryl sunfate – một hóa chất chuyên dùng trong sản xuất xà phòng với liều lượng vừa phải.
Chất này không được dùng trong thực phẩm. Tuy nhiên, đây không phải là chất như nước rửa chén, dùng hòa vào cà phê đã pha như nhiều người nghĩ. Thường chất được bán ở dạng cô đặc. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới, đây là chất độc không được ăn, uống, hút. Nếu dùng có thể gây tổn hại đường ruột, gan.
Riêng những xà phòng gội đầu có chất này có thể gây xơ tóc, tổn hại mắt, làm tóc rụng. Việc dùng sodium lauryl sunfate trực tiếp vào cơ thể kết hợp một số hóa chất khác, về lâu dài có thể gây ung thư”.
“Ngoài ra, việc lạm dụng hóa chất có hương cà phê sẽ gây hại cho sức khỏe về lâu dài. Trong hạt cà phê đã có cafein nhưng việc cho thêm một cafein hóa chất là một thủ thuật đánh lừa người tiêu dùng. Uống nhằm chất này cũng sẽ thấy nôn nao, tỉnh táo, không buồn ngủ (dù uống cà phê độn bắp).
Trong khi đó, cafein không được phép cho vào thực phẩm bừa bãi mà phải phụ thuộc một số chỉ tiêu về hàm lượng tinh khiết, hàm lượng kim loại nặng, arsen (AS)… Nói chung, chưa có trường hợp nào ngộ độc cấp tính do cà phê nhưng người tiêu dùng phải cẩn trọng với những loại cà phê trôi nổi. Việc tích tụ hóa chất trong cơ thể lâu ngày sẽ gây ra nhiều bệnh mãn tính” – bác sĩ Diệp khuyên.
Đâu là cà phê thật?
Ông Huỳnh Lê Thái Hòa – trưởng phòng vệ sinh an toàn thực phẩm Sở Y tế TP.HCM – khẳng định: “Với một thị trường rộng như TP.HCM, các cơ sở chế biến cà phê “chui” rồi giao cho các quán lề đường thì không thể nào kiểm soát nổi hết”.
Giám đốc một công ty chế biến cà phê xuất khẩu bức xúc: “Hai năm trước, một số cơ sở bán hàng ở miền Tây còn đặt tôi làm cà phê theo công thức tẩm, ướp mà họ đưa. Khi đi hỏi ở chợ Kim Biên tôi phát hiện chất họ tẩm đắng cho cà phê là chất sử dụng sản xuất thuốc kháng sinh.
Tôi còn biết muốn làm cho cà phê từ màu nâu chuyển sang đen phải dùng đường caramen, loại đường này rất đắt tiền. Do đó, nhiều nơi thay bằng màu công nghiệp, giá chỉ có 30.000 đồng/kg. Một muỗng nhỏ màu công nghiệp có thể làm 10kg cà phê từ nâu chuyển sang đen kịt.
Tuy nhiên, lương tâm của người làm nghề không cho phép”. Sau đó, nhãn hiệu cà phê của công ty chị ít xuất hiện ở Việt Nam mà chủ yếu được xuất khẩu sang Mỹ, Nhật. Điều đó chứng tỏ rằng chính thị hiếu của một số người tiêu dùng ở nước ta đã “nuôi sống” các cơ sở chế biến cà phê pha, tẩm hóa chất.
Từ bỏ thói quen uống loại cà phê đen kịt, sánh đặc và quá nhiều bọtlà cách tốt nhất để tránh uống phải cà phê dởm.
Chú ý cà phê nguyên thủy có màu nâu cánh gián, không quá sánh đặc. Cà phê nguyên chất có mùi hương tự nhiên, nồng nàn. Nếu cà phê nguyên chất sau khi uống để lại dư vị ngọt dịu thì cà phê pha hóa chất chỉ để lại vị đắng.
Ngoài ra, khi đánh ly cà phê nguyên chất cũng ít bọt và bọt kém bền. Trong khi đó, ly cà phê có hóa chất tạo bọt thì thường lên bọt rất nhiều và lâu tan”

Uống cà phê để sống hay chết?

ANTĐ - Cà phê chỉ mới du nhập vào Việt Nam hơn 100 năm nay và đồn điền đầu tiên trồng cà phê trên mảnh đất chữ S này cũng chỉ mới có từ năm 1888, nhưng hiện nay Việt Nam đã là nước sản xuất và xuất khẩu đứng thứ 2 thế giới và hơn nữa cà phê đã là thứ nước uống thường dùng của dân ta, có lẽ chỉ có sau nước chè.

Thói quen uống cà phê đã ăn sâu vào nếp sinh hoạt của nhiều người Việt Nam, và các quán cà phê xuất hiện ở mọi hang cùng ngỏ hẽm. Đến mức mọi quán giải khát bây giờ đều có thể gọi là quán cà phê. Chỉ riêng hai điều kiện nguồn nguyên liệu sẵn có và sự phổ biến của thói quen ngồi quán cà phê/ uống cà phê như vậy đã đủ để xác định Việt Nam đang là thị trường lớn tiêu thụ cà phê. Chỉ tiếc một điều không ở đâu trên thế giới này tiêu thụ một thứ cà phê giả, độc hại như ở Việt Nam.
Thế nào là cà phê giả?
Xét theo xu hướng tiêu dùng, trên thế giới hiện có 3 loại cà phê: Loại thứ nhất là cà phê 100% thiên nhiên. Loại thứ hai là cà phê có sử dụng hương liệu, loại này các nhãn hiệu đa quốc gia thường sản xuất. Loại thứ ba là cà phê có sử dụng hương liệu và pha độn một số thành phần khác như chocolate, ca cao, chicory, các chất thay thế cà phê khác. Nếu là một trong ba loại kể trên và nhà sản xuất công bố rõ thành phần của loại đó trên bao bì sản phẩm có thể coi đó là cà phê thật.
Vậy cà phê thế nào là giả (?) - Đó là loại cà phê công bố là cà phê nhưng tỉ lệ cà phê thấp, độn nhiều chất lạ không phải cà phê nhưng rang cháy và sử dụng các thủ đoạn để người tiêu dùng tưởng là cà phê nguyên chất. Đặc trưng của loại cà phê được coi là giả khi các nhà sản xuất, pha chế không công bố thành phần các chất độn trong cà phê thành phẩm. Còn cà phê sản xuất không đảm bảo ATVSTP thì gọi là cà phê bẩn, sử dụng các hóa chất độc hại, không rõ nguồn gốc để sản xuất và chế biến, pha chế cà phê là cà phê độc. Rất cay đắng, không ít quán cà phê trên cả nước hiện nay đều sử dụng loại cà phê giả, bẩn, độc này.
Ghê sợ cà phê giả, bẩn và độc
1 kg cà phê nhân rang, xay xong chỉ còn 0,7 kg, 1 kg cà phê bột nguyên chất chỉ có thể pha được 25 ly cà phê là đã rất cao tay rồi. Giá cà phê nhân khô trên thị trường giao động trong khoảng 45.000-50.000 đồng/kg, vậy giá thành tối thiểu cà phê bột phải là 100.000 đồng/kg. Giá 1 ly cà phê tối thiểu cũng phải 10.000 đồng/ly. Vậy mà trên khắp các vỉa hè TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam đang bán với giá 8.000 đồng/ly. Vậy đó là cà phê gì? Tôi đã đến một cơ sở chế biến cà phê ở phường Bình Trưng Tây (Q.2 TP.HCM). Trong một gian xưởng thấp tè, nóng hừng hực, bốn công nhân chân đất đang xả “cà phê” rang rồi xuống sàn xưởng, dùng xẻng đảo cho nguội trước khi xúc đổ vào họng máy xay. Mùi hóa chất hăng nồng bốc lên. Nhìn kỹ cái đống gọi là cà phê tôi  thấy rõ chỉ khoảng 20% là hạt cà phê mà chủ yếu là hạt méo mó, hạt lép, còn chủ yếu là hạt ngô, hạt đậu nành. Những hạt này được rang cháy tẩm dầu mỡ và tinh dầu thơm mùi cà phê trông bóng loáng và thơm nức.
Cái đống gọi là cà phê trong xưởng kia có thành phần như sau: 20% cà phê xấu mua giá rẻ từ sàng sẩy ở các cơ sở xuất khẩu tại Tây Nguyên, 60% là đậu nành Campuchia, 20% ngô hạt. Hương liệu là tinh dầu hóa học cùng các loại mỡ hóa chất mua từ chợ Kim Biên. Giá thành làm ra là 35.000 đồng/kg bột, bán ra 60.000 đồng/kg. Đó là nguyên liệu chính để pha ra cái nước uống gọi là cà phê đang có mặt trên mọi nẻo đường đất nước.
Thế đấy, ngay cả uống chất độc cũng dễ trở thành một thói quen. Vẫn biết là cà phê rởm rồi, nhưng thấy thơm nhiều người cứ uống đại. Thậm chí có người uống xong thấy nôn nao cả người giống như say xe. Hóa chất trong cà phê giả ghê thật. Vậy mà thiên hạ cứ uống đều đều.
Tìm hiểu các “nhà sản xuất” cà phê giả, bẩn, độc tôi được biết các hóa chất được tẩm ướp để biến ngô đậu thành cà phê có tới 20 loại, trong đó chủ yếu có calamel tạo màu và vị ngọt, dầu ăn đông cứng, đường hóa học và tinh dầu tạo mùi thơm.
Trung tâm Nghiên cứu khoa học vì lợi ích của cộng đồng (CSPI) tại Mỹ vừa đưa ra báo cáo về nguy cơ gây ung thư của các chất tạo màu caramel thường sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm. Chất tạo màu caramel có công thức hóa học là 4-methylimidazole (4-MI), được tạo ra thông qua quá trình biến đổi hóa học có liên quan đến ammonia-sulfite. Độc tính của 4-MI gây ra ung thư trên chuột. Đó là caramel được phép dùng trong công nghiệp thực phẩm, còn cái thứ caramel trôi nổi mua ở chợ để chế cà phê giả là caramel chế từ gỉ đường chứa đầy độc tố, kinh khủng gấp nhiều lần so với thứ CSPI đã cảnh báo.
Mỗi một kg ngô đậu để biến thành cà phê cần tới 0,15 kg caramel. Sau khi đổ caramel khoảng 4 phút, các chủ lò rang tiếp tục rắc đường hóa học giá rẻ của Trung Quốc vào để tăng vị ngọt. Hỗn hợp trên được trộn đều để caramel khô lại. Tiếp đến, sau khi hỗn hợp trên được làm nguội, bơ công nghiệp và các loại dầu sẽ được các chuyên gia làm giả tẩm ướp. Các loại dầu ăn không mùi là phụ gia không thể thiếu. Tùy theo lò, người ta có thể dùng dầu cải, dầu dừa. Tuy nhiên,  nguy hiểm nhất trong giai đoạn này là sự có mặt của chất CNC trộn chung với các loại dầu với mục đích cô đặc hỗn hợp. Được biết, chất này là một chất hóa học dùng trong quá trình hồ vải. Khâu cuối cùng là thêm hương vị cà phê bằng tinh dầu thơm không biết là tinh dầu gì và có được phép dùng trong thực phẩm không. Đến khi pha chế, các quán cà phê thường thêm chất tạo bọt, vốn dùng trong công nghệ tẩy rửa vào cốc cà phê nữa.
Theo quy định, việc chế biến thực phẩm, thức uống  sử dụng các chất như tạo màu, tạo bọt, tạo thơm… phải được sự cho phép của Bộ Y tế. Chất nào không được phép thì tuyệt đối không được cho vào. Tất cả sản phẩm đều phải công bố hàm lượng, tiêu chuẩn sản phẩm trên nhãn mác, bao bì. Trong khi đó, chất caramel, nếu được sản xuất từ đốt cháy đường thì cũng phát sinh những chất độc hại gây ung thư như các loại thực phẩm bị đốt cháy khác. Chất CNC, nếu là loại được sử dụng trong công nghiệp, có khả năng gây ung thư vì chứa nhiều tạp chất độc hại. Ngay cả loại dùng trong thực phẩm, nếu dùng quá liều cũng độc hại.
Quản lý chất lượng cà phê bằng cách nào?
Cho đến nay việc quản lý chất lượng cà phê chỉ quy định tỉ lệ caffeine mà không quan tâm tới nguồn gốc hoặc quá trình chế biến. Việc kiểm tra kiểm soát cũng chỉ có ở các cơ sở sản xuất cà phê gói bán trên thị trường. Còn cà phê trên thị trường pha chế giải khát thì thuộc về các đơn vị kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhưng các đơn vị này không có khả năng kiểm tra chất lượng cà phê, nhất là không thể kiểm tra hàng trăm nghìn quán cà phê giải khát trên mọi nẻo đường đất nước. Từ trước tới nay việc quản lý, kiểm tra, công nhận hoặc xử phạt các sản phẩm thực phẩm đều do Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm tỉnh chủ trì. Các đơn vị như quản lý thị trường, thanh tra ngành Nông nghiệp… chỉ tham gia đoàn liên ngành. Chỉ từ năm 2012, chức năng kiểm tra, quản lý chất lượng đối với sản phẩm nông - lâm - thủy sản mới được giao cho Cục Quản lý chất lượng nông - lâm - thủy sản thuộc ngành NN&PTNT quản lý. Sản phẩm từ ruộng về tới bếp, chế biến ra thức ăn là do ngành nông nghiệp chịu trách nhiệm. Từ bếp, thực phẩm ra thị trường là do ngành công thương quản lý. Còn khi lên bàn ăn thì trách nhiệm thuộc về ngành Y tế.
Như vậy, chức năng quản lý của các ngành, đơn vị còn chồng chéo, chưa phân định trách nhiệm rạch ròi nên chất lượng sản phẩm gần như không thể kiểm soát nổi.
Vậy là đến nay chất lượng cà phê đường phố  gần như bị buông thả và vì lợi nhuận các “nhà sản xuất” vẫn tiếp tục đầu độc khách hàng. Cần sớm bắt buộc tất cả các quán cà phê, các nhà hàng có bán cà phê công bố nguồn gốc, chất lượng, thành phần cà phê mà mình pha chế. Tất cả các cơ sở sản xuất cà phê bột phải đăng ký chất lượng VSATTP và chịu sự kiểm tra kiểm soát thường xuyên. Đó là con đường để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. 

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

13 loại rau thơm chữa bệnh

Rau thơm là gia vị phù hợp cho bữa ăn. Nhưng những loại rau ấy đã góp phần không nhỏ trong việc phòng và chữa bệnh. Dưới đây là 13 loại rau thơm giúp chữa bệnh và dùng làm món ăn ngon trong bữa ăn hàng ngày của bạn.
1. Rau răm
Còn có tên gọi là thủy liễu, hương lục... Rau răm vị cay, tính ấm, không độc, dùng để chữa đau bụng lạnh, chữa rắn cắn, chàm ghẻ, mụn trĩ, kích thích tiêu hóa, kém ăn, làm dịu tình dục. Rau răm được trồng khắp nơi và thường được mọi người dùng làm rau sống và gia vị vào canh để có thể sát trừ một số độc chất có trong hải sản (tôm, cá...). Thường khi làm thuốc, người ta dùng tươi, không qua chế biến.
2. Thì là (thìa là)
Còn gọi là thời la, đông phong. Thì là được dùng làm gia vị vào các món ăn, nhất là các món chế biến từ cá. Trong đông y, thì là là một vị thuốc rất thông dụng. Theo Nam dược thần hiệu, hạt thì là vị cay, tính ấm, không độc, điều hòa món ăn, bổ thận, mạnh tỳ, tiêu trướng, trị đau bụng và đau răng.
3. Rau mùi
Còn được gọi là ngò ta, hương tuy. Rau mùi có vị cay, tính ấm, không độc, tiêu thức ăn, trị phong tà, thông đại tiểu tiện, trị các chứng đậu, sởi khó mọc, phá mụn độc... Rau mùi được trồng phổ biến ở miền bắc và thường có trong mùa đông.
4. Mùi tàu
Còn gọi là ngò tây, ngò gai, ngò tàu. Cây mùi tàu được nhân dân ta trồng phổ biến khắp nơi, dùng để ăn sống, nấu canh và làm thuốc chữa bệnh. Mùi tàu có vị the, tính ấm, mùi thơm hắc, khử thấp nhiệt, thanh uế, mạnh tỳ vị, kích thích tiêu hóa...
5. Húng chanh
Còn gọi là cây rau tần. Trong dân gian thường dùng lá tươi làm rau sống trong các bữa ăn. Húng chanh vị chua the, thơm hăng, tính ấm, vào phế có công dụng giải cảm, tiêu đờm, khử độc và các chứng bệnh cảm cúm, lạnh phổi.
6. Húng quế
Theo Đông y, húng quế có vị cay, tính nóng, có mùi thơm, có tác dụng làm ra mồ hôi, lợi tiểu, giảm đau. Quả có vị ngọt và cay, tính mát, có tác dụng tốt cho thị lực. Toàn cây có tác dụng chữa cảm cúm, cảm sốt nhức đầu, nghẹt mũi, đầy bụng, kém tiêu.
7. Bạc hà (húng cây)
Bạc hà là một bài thuốc khá hữu hiệu trong việc chữa trị cảm cúm và các vết côn trùng cắn, giúp lọi tểu hóa, chữa chứng đầy hơi, thấp khớp, nấc cục, thông cổ, trị viêm xoang nhẹ… Dầu bạc hà cay có thể làm dịu cơn hen suyễn nhẹ bằng cách ngửi. Phụ nữ có mang thì nên thận trọng khi dùng vì rất có thể dẫn đến sẩy thai.
8. Sả (cỏ chanh)
Sả rất tốt cho hệ tiêu hóa, có tác dụng kích thích ra mồ hôi, hạ sốt ở người bệnh cảm và giúp lợi tiểu. Sả còn được dùng để điều trị chứng co thắt cơ, chuột rút, thấp khớp, đau đầu..
9. Tía tô
Tía tô là vị thuốc được y dược học đông phương xếp vào loại giải biểu (làm cho ra mồ hôi) thuốc nhóm phát tán phong hàn (nhóm do lạnh gây bệnh) cần chữa bằng cách cho ra mồ hôi, khỏi sốt. Không chỉ là rau gia vị thơm ngon, tía tô còn là cây thuốc được dùng phổ biến trong y học cổ truyền. Tía tô có hai loại: tía tô mép lá phẳng, màu tía nhạt, ít thơm và tía tô mép lá quăn, màu tía sẫm, mùi thơm nồng.
Tía tô có vị cay, tính ấm, có tác dụng trị cảm lạnh, đầy bụng, nôn mửa. Cành tía tô có vị cay ngọt, có tác dụng an thai, chống nôn mửa, giảm đau, hen suyễn. Ngoài ra, với giá trị dinh dưỡng cao, giàu vitamin A, C, giàu hàm lượng Ca, Fe, và P... tía tô có tác dụng đẹp da. Lương y Đinh Công Bảy - Tổng thư ký Hội Dược liệu TP.HCM cho biết, tía tô tốt cho phế quản, phổi. Theo Đông y, phổi tốt sẽ giúp thần sắc tươi tắn, da hồng hào. Chính vì thế, nhiều người đã dùng tía tô như một phương thuốc làm đẹp da ít tốn kém, nhưng hiệu quả.
10. Rau diếp cá
Từ lâu rau diếp cá đã được y học cổ truyền dùng để chữa các bệnh về tiêu hóa, phát ban, tắc sữa… Gần đây y học hiện đại cũng phát hiện ra nhiều tác dụng quý của loại rau - cây thuốc này như: kháng khuẩn, tiêu diệt ký sinh trùng.
Cây này đã được ghi trong các sách thuốc từ cách đây hàng nghìn năm. Với giá trị làm thuốc thanh nhiệt, giải độc do làm mát huyết trong cơ thể nên trong các trường hợp bị viêm nhiễm trong cơ thể như mụn nhọt, mẩn ngứa có thể dùng rau diếp cá làm mát máu. Hoặc khi bị bệnh đường ruột, bị tiêu chảy cũng có thể dùng diếp cá.
Rau diếp cá có thể dùng để hạ sốt cho trường hợp trẻ sốt mà không muốn dùng thuốc Tây, hoặc phụ nữ có thai không dùng được Tân dược. Rau này còn có thể dùng để trị táo bón do đại tràng bị nhiệt, hay dùng chữa mụn nhọt, lở ngứa.
11. Lá lốt
Lá lốt còn có tên là tất bát, thuộc họ hồ tiêu ( Piperaceae), Lá lốt là loại cây mọc hoang và được trồng ở khắp mọi nơi.
Lá lốt có công dụng ấm trung tiêu, ấm dạ dày. Chữa nôn mửa do bị khí lạnh bụng đầy đau. Chữa nhức đầu, đau răng, mũi luôn luôn chảy nước, đại tiện lỏng ra nước, ra máu. Trong nhân dân, lá lốt thường được dùng chữa các bệnh sau: Chữa đau nhức xương khớp, Chữa bệnh phụ khoa (các viêm nhiễm ở vùng âm đạo, ngứa, ra khí hư, Chữa đổ mồ hôi nhiều ở tay chân, Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay, Chữa đau rang, Chữa viêm xoang, chảy nước mũi đặc, Giải say nắng, Chữa đau bụng lạnh, đi tiêu phân lỏng, buồn nôn, nấc cụt…
12. Đinh lăng
Đinh lăng có tác dụng tăng biên độ điện não, tăng tỉ lệ các song alpha, beta và giảm tỉ lệ song delta. Những biến đổi này, diễn ra ở vỏ não mạnh hơn so với ở thể lưới.Tăng khả năng tiếp nhận cả các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng. Tăng nhẹ quá trình hung phấn khi thực hiện phản xạ trong mê lộ, tăng hoạt động phản xạ có điều kiện gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt. Dưới tác dụng của cao đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn.
13. Lá sung
Sung là loại cây thường được trồng ven ao hồ để lấy bóng mát, lá dùng gói nem. Làm thuốc nên chọn những lá có nốt sần. Ta hay gọi là lá sung vá hay lá sung tật.
Lá sung tính mát, vị ngọt hơi chát, có tác dụng thông huyết, giảm đau, lợi tiểu, tiêu viêm, tiêu đờm, tiêu thũng, sát trùng, bổ huyết. Trong dân gian, lá sung thường được dùng để chữa sốt rét, tê thấp, lợi sữa

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

High-heeled shoes may look good, but they’re bad for your feet

Now is the season when women take their freshly pedicured toes al fresco, often courtesy of strappy high-heel sandals or open-toed pumps that look fabulous but sometimes feel like the masochistic torture tools that many podiatrists insist they are.




Michael Liebow, a podiatrist in Bethesda, pulls out a wince-inducing photograph of a foot X-rayed in a high-heel shoe: It reveals the ball of the foot at a nearly 90 degree angle to the bones in the rest of the foot. It does not look good.
The X-ray is a prop that Liebow says he shows to patients who “walk into the office in six-inch heels and say, ‘My feet are killing me! Why?’ ” He says he tells them, “That is not how your foot has evolved to walk.”
To sum up his brief and frequently futile plea for foot health: Humans are meant to walk heel-to-toe, with the leg at about a 90-degree angle to the foot and the ankle joint employing a 60-degree range of motion during normal daily activities. By wearing a high heel, Liebow explains, “you’re altering the position of the foot and how the foot is to function. Therefore, lots of bad things happen.”
Shall we count the ways?
Among the more common problems podiatrist says they see in women are calluses and, more painfully, corns, hard nuggets of keratin buildup caused by pressure on the skin. With high heels, corns develop up under the balls of the foot where the weight of your body presses down, and they feel like small rocks underfoot when you walk. Liebow also sees capsulitis, a painful inflammation of the joints where the toes attach to the foot, and neuromas, or pinched nerves, where pointy high heels squeeze the toes. And when the heel is frequently in a high-heel shoe, it can cause the Achilles tendon (which connects the calf muscle to the heel bone) to tighten. When you kick off your shoes and the heel comes down to the floor at the end of the day, the extra stretching of the tendon can lead to a condition called Achilles tendinitis.
Wearing high heels can also cause inflammation of the connective tissue at the bottom of the foot, the plantar fascia. That can result in severe heel pain and the need for aggressive treatments such as oral anti-inflammatories, oral steroids, cortisone injections, walking boots and crutches.
All of these conditions can be incredibly painful, requiring corticosteroid shots and, ideally, flatter and wider shoes. His patients will take the shots, but give up the shoes?
Women, Liebow says, “will wear their high-heeled shoes until their feet are bloody stumps.”
Take Danielle Pletka, vice president for foreign and defense policy studies at the American Enterprise Institute. She wears four- or five-inch heels to work most days; on a recent Tuesday, she towered in five-inch stiletto-heeled black Sergio Rossi open-toed booties.
“There are lots of things that impact the way you look that aren’t necessarily optimal for every muscle in your body,” says Pletka, who admits that she has some high pairs “that are uncomfortable, no question.” But, she adds, “you want to look nice. I always get nice comments on my shoes. And I like it.”
Erika Schwartz, a podiatrist who practices on K Street in the District, says that when she asks her patients to stick with heels less than two inches high, “some say, ‘Oh, you’re so cute! No, I’m not going to wear under two inches, but it’s very cute of you to say that!’ ”
Schwartz says she understands that many are in professions that demand a more fashionable shoe than the comfy, orthopedically correct footwear she wears to work. So she tells them to at least “walk in something else. Put those dress shoes on when you get to the office. Minimizing the amount of time that you’re standing or walking will minimize the issues that come along with such an unnatural position of the foot.”
Did we mention that walking too long in high-heeled shoes can result in, besides all of the above, stress fractures, or cracks in the bones of the feet?
Schwartz also suggests that women avoid the thin, stiletto-style heel: “The bigger the heel, if it’s chunky or a wedge, seems to be better because the shoe has a wider base of stability. A skinnier heel and you’re more likely to have ankle spraining.” You can also break your ankle or injure the ligaments on the side of your ankle, among other body parts, when you fall from wobbly high shoes — thus becoming “fashion roadkill,” a la Carrie Bradshaw of “Sex and the City,” who in one episode fell face first while walking the runway in sky-high heels.
Franklin Polun, a podiatrist with offices in Potomac and the District — the name of his Web site is Mydamnfoothurts.com — estimates that at least a quarter of his female patients come in with issues related to high heels. Like Schwartz’s patients, many of them aren’t willing to throw out their Manolo Blahniks (or knock-offs). “A high-heeled shoe is sexier-looking,” he says. “I get that.” So he tries to give them, as he puts it, “an action plan that’s actually doable.”
Polun’s advice includes going with a rubber-soled shoe over leather, because rubber is better able to absorb pressure on nerves in the feet. He also suggests shopping for shoes at the end of the day, when your foot is most swollen, rather than in the morning.
Liebow, too, has a “short list of things you can do to minimize the problems” if you insist on wearing high heels. The list includes buying only shoes with good padding at the balls of the foot and a gradual slope (rather than the 90-degree angle shown in his X-ray), so “the force is more evenly distributed” over the foot.
As for how high you can safely go with heels, Liebow says, “there’s no height that’s good.” But “most women can handle a heel of an inch or two with minimal side effects.”
And the proclivity toward foot problems does depend somewhat on the person. Pletka says her feet rarely hurt in her four-inch heels, and she points out that, though heels have their problems, “Uggs are really bad for your feet: They don’t support your arches.” Liebow agrees that some people have problems wearing such slip-on woolly winter boots, which often have little or no support; ditto for that other summertime favorite, flip-flops.
“Not only that,” Pletka adds, “they’re ugly as sin. So it just goes to show you.”
A spokesman for UGG Australia said the company makes many varieties of boots, for all tastes, and has versions with plenty of support.

Ianzito is a writer based in Washington.